Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Chia trứng

Với nhiều lợi ích, sự chia sẻ trứng - sẻ chia hạnh phúc đã mang lại cơ hội có thai không những cho phụ nữ vô sinh trẻ chức năng buồng trứng tốt mà còn cho cả những phụ nữ không thể có con bằng chính trứng của mình; nhân đôi niềm hạnh phúc được làm cha, làm mẹ cho hàng nghìn cặp vợ chồng vô sinh trên thế giới.

Ngày nay, trên toàn cầu ngày một nhiều phụ nữ kết hôn muộn hoặc muốn có con muộn. Điều này khiến họ rơi về tình trạng không thể sinh con bởi vì họ bị mãn kinh sớm hoặc do lớn tuổi. Chất lượng trứng thường bắt đầu giảm sau tuổi 35, bị nhiều tổn hại nghiêm trọng sau 40 tuổi và gần như bị suy giảm tất cả sau tuổi 43. Điều này là do 1 số bất thường của tế bào trứng, đặc biệt là với các trục chính phân bào giảm nhiễm, mà kết quả cho tỉ lệ phần trăm cao của phôi bất thường. Bên cạnh đó, còn có những phụ nữ không có buồng trứng do bị cắt buồng trứng bởi bệnh lý ở buồng trứng hoặc bị căn bệnh di truyền không thể có con bằng chính trứng của họ. Tất cả họ ví dụ muốn có con đều cần được xin trứng làm TTTON. Chương trình TTTON bằng trứng hiến đã phát triển thành phổ biến hơn với những tiến bộ nhanh nhất trong công nghệ hỗ trợ sinh sản đã mang lại hạnh phúc to lao được làm mẹ cho những phụ nữ này. Tuy nhiên, nguồn trứng hiến thì thật khan hiếm không những ở các nước đang phát triển mà kể cả những nước phát triển.

Chia trứng

Ảnh minh hoạ

Trong khi đó, có rất nhiều phụ nữ trẻ tuổi, buồng trứng tốt và cần được làm TTTON thì mới có con (nguyên nhân do chồng hoặc bị tắc 2 vòi trứng) nhưng đã không có đủ kinh phí để làm TTTON. Thêm vào đó, có 1 số phụ nữ làm TTTON có rất nhiều trứng dư thừa mà họ không cần thiết dùng cho tương lai sau khi họ đã có thai và bị bỏ phí. Cần phương án nào cho khiếu nại này? Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chương trình chia trứng TTTON đã ra đời và ngày một phát triển trên khắp thế giới, hàng năm đã có hàng ngàn phụ nữ được lợi lợi từ phương pháp này. Chia trứng là 1 phương pháp điều trị TTTON kết hợp cho những phụ nữ có rất nhiều trứng (người chia trứng) với những phụ nữ không có trứng (người tiếp nhân trứng). Chia trứng cho phép 2 nhóm phụ nữ này trợ giúp lẫn nhau - người chia trứng tiếp nhân được điều trị TTTON với giá thành thấp, trong lúc đó người tiếp nhân trứng nhận được trứng cần cho họ làm TTTON với mức chi phí phải chăng. Các nghiên cứu đã được tuyên bố bố chỉ ra rằng chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến.

Lợi ích của chương trình chia trứng làm TTTON

Chương trình chia trứng làm TTTON mang lại nhiều ích lợi với người chia trứng, người tiếp nhân trứng và với xã hội, đó là:

- Cung cấp điều trị TTTON không mất phí hoặc trợ cấp cho những phụ nữ đủ điều kiện phát triển thành người chia trứng.

- Cung cấp 1 chọn lựa an toàn cho những phụ nữ cần xin trứng.

- Giảm sự lãng phí trứng trong các trường hợp nhiều trứng và không dùng hết khi làm TTTON.

- Tránh được sự phụ thuộc về những người cho trứng không phải là bệnh nhân. Do đó, loại trừ các rủi ro liên quan đến TTTON và can thiệp y tế Không nhất thiết thiết cho nhóm phụ nữ này.

- Mang tính nhân đạo cao, xúc tiến sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những người phụ nữ hiếm muộn cần điều trị TTTON.

- Tiền đề cho việc thành lập ngân hàng trứng.

Đối tượng của chương trình chia trứng làm TTTON

Người xin trứng:

Chỉ định của người xin trứng:

- Không có buồng trứng hoặc đã bị cắt.

- Suy buồng trứng sớm nguyên phát hoặc thứ phát.

- Mãn kinh.

- Lớn tuổi.

- Vô sinh không rõ nguyên nhân.

- Thất bại IVF nhiều lần.

- Người bị sảy thai nhiều lần.

- Phụ nữ bị bất thường di truyền nghiêm trọng.

Kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp thủy tinh hóa ra đời với tỉ lệ trứng sống sau rã đông rất cao

Kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp thủy tinh hóa ra đời với tỉ lệ trứng sống sau rã đông rất cao

Điều kiện của người xin trứng:

- Quy định về tuổi khác nhau giữa các nước: ở Anh và 1 số nước châu u, tuổi người xin trứng quy định là < 50 tuổi; ở Ấn Độ và một số nước khác là < 55 tuổi; riêng tại Hoa Kỳ thì không giới hạn tuổi người xin trứng.

- Có đủ sức khỏe có thể mang thai.

- Đã được hỗ trợ tư vấn sẵn sàng vào vấn đề chia trứng.

- Về mặt tài chính có thể đủ khả năng điều trị.

Người chia trứng:

Có nhu cầu điều trị TTTON và có dự trữ buồng trứng tốt.

Chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng

Điều kiện của người chia trứng:

- Tuổi 18 - < 35 tuổi.

- Không có bệnh truyền nhiễm hoặc rối loạn di truyền.

- Xét nghiệm FSH/AMH đánh giá tình trạng của buồng trứng.

- Không hút thuốc lá ít nhất trong 3 tháng.

- Chỉ số khối cơ thể (BMI) <28.

- Không có tiền căn u buồng trứng, lạc nội mạc tử cung tại buồng trứng.

- Không quá hai lần IVF thất bại.

Cách tiến hành và kết quả của TTTON chia trứng trên thế giới

Các chi phí của IVF có thể là rào cản đối với 1 số bệnh nhân nguyện vọng có con lúc mà IVF là phương pháp điều trị duy nhất có thể giúp họ có con. Nguyên nhân là do tắc hai vòi trứng hoặc tinh trùng của chồng quá kém, trong lúc đó, chức năng buồng trứng còn rất tốt.

Các chương trình chia trứng lần trước hết được tiến hành ở Hoa Kỳ khoảng năm 1988 với mục đích làm cho việc thực hiện TTTON giá cả phải chăng hơn. Đối với những người cho trứng đủ điều kiện, các chương trình chia trứng mang đến một cách hợp lý để họ làm TTTON với giá tiền giảm trong lúc trợ giúp được người khác một cách kín đáo. Đối với những người nhận, chương trình chia trứng giúp những người phụ nữ này thực hiện được thiên chức làm mẹ và sinh ra đứa trẻ có liên quan huyết thống với chồng mình mà chi phí cho những người nhận cũng được giảm đáng kể.

Còn tại Anh, những người cần xin trứng để làm TTTON phải chờ đợi trong thời gian rất dài do rất khan hiếm người cho trứng, gần như phụ nữ Anh phải ra nước ngoài để xin trứng với giá tiền rất cao. Trong lúc chưa có giải pháp nào cho khiếu nại này thì năm 1992, có bệnh nhân tới gặp BS. Kamal Ahuija và BS. Eric Simon tại bộ phận khám phụ khoa của họ tại Durham và yêu cầu được chia trứng làm TTTON. Điều này là ý tưởng giúp cho hai vị bác sĩ người Anh đi đi đầu trong khiếu nại chia trứng ở Anh.

Trứng thường được chia đều giữa người chia trứng và người nhận, theo hợp đồng đã thỏa thuận trước. Trong trường hợp số trứng chia lẻ, ở Anh, trứng dôi ra sẽ được chia cho người chia trứng; còn ở Hoa Kỳ, trứng dôi ra sẽ được chia cho người nhận trứng. Khi trứng của người chia quá nhiều, sẽ được chia cho 2 người tiếp nhân (tối đa số người nhận được cho phép ở Anh và ở Hoa Kỳ là 2). Nếu không đủ trứng để chia (ít hơn 8 trứng), người chia trứng phải chọn lựa quyết định không chia trứng và giữ lại tất cả trứng cho mình, tuy nhiên, trong trường hợp này, họ phải trả phí IVF. Còn người xin trứng sẽ phải hủy chu kỳ và được hoàn trả phí đã thực hiện cho người chia trứng. Nghiên cứu của Efstratios (2003) cho thấy nếu như giảm số lượng tế bào trứng thấp nhất cần phải có để thực hiện chia trứng từ 12 xuống 8 và chia các tế bào trứng bằng nhau giữa người cho và người nhận, đã làm giảm đáng kể tỉ lệ hủy bỏ chu kỳ, trong lúc đó, tỉ lệ sinh sống của người cho và người tiếp nhân không bị ảnh hưởng.

Các nghiên cứu đã được tuyên bố bố chỉ ra rằng chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến. Nghiên cứu (Ahuja và cộng sự, 1996; Zeynep và cộng sự, 2012) cho thấy: không có sự khác biệt về số lượng trung bình của trứng được chia, tỉ lệ thụ tinh hoặc số phôi chuyển trung bình và tỉ lệ sinh sống giữa người chia trứng và người nhận mặc dù tuổi người nhận cao hơn người chia trứng. Cơ hội có thai hoặc sinh sống của người chia trứng và người nhận cũng giống như bệnh nhân làm TTTON tiêu chuẩn. Người chia trứng cũng không có nguy cơ bị hội chứng quá kích buồng trứng cao hơn so với người làm TTTON tiêu chuẩn. Tại The Lister Fertility Clinic ở Anh, giai đoạn năm 2005 - 2012, kết quả của người chia trứng với tỉ lệ có thai 55,8% và tỉ lệ sinh sống 40,4%, tương đương với kết quả có thai tại phụ nữ <35 tuổi làm TTTON (tỉ lệ có thai 54,4% và tỉ lệ sinh sống là 41,2%). Số liệu thống kê của Trung tâm Sinh sản Herts & Essex từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 cũng cho thấy kết quả ở người chia trứng và người nhận rất cao với tỉ lệ có thai, thai lâm sàng và tỉ lệ sinh sống lần lượt là 56,3%, 42,5% và 40% ở người chia trứng; người tiếp nhân trứng là 64,4%, 55,6% và 45,6%.

Gần đây, kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp thủy tinh hóa ra đời với tỉ lệ trứng sống sau rã đông rất cao, nghiên cứu của Krinos cho thấy: noãn đông lạnh bằng phương pháp thủy tinh hóa có thể đem tới cùng một chất lượng phôi, thai và khả năng làm tổ giống trứng tươi. Với kết quả ấn tượng của phương pháp đông trứng thủy tinh hóa, bệnh nhân có thể làm 1 chu kỳ và sử dụng 1 số trứng tươi cho bản thân và sau đó đông trứng phần còn lại. Nếu họ có thai hoặc có một số lý do khác nên họ không muốn dùng những trứng đã đông lạnh, họ có thể hiến số trứng đông lạnh cho ngân hàng trứng (đây là tiền đề để thành lập ngân hàng trứng). Nếu 2 vợ chồng không có thai, họ có thể dùng trứng đông lạnh của họ và chỉ phải trả phí thông thường để làm rã đông, thụ tinh, nuôi phôi và chuyển phôi. Ở Trung Quốc, những bệnh nhân làm TTTON có trên 20 trứng được khuyến khích thụ tinh tối thiểu 15 trứng với tinh trùng của chồng để tạo thành phôi. Số trứng còn dư sẽ được trữ đông bằng phương pháp thủy tinh hóa. Thông thường, những phụ nữ này sau khi sinh con khỏe mạnh và họ thường hiến số trứng trữ lạnh vào ngân hàng để cho các cặp vợ chồng hiếm muộn khác. Tỉ lệ có thai lâm sàng của trứng trữ hiến là 42,3%, tỉ lệ làm tổ là 25,5%. Không có bé bị dị tật bẩm sinh. Những kết quả này chỉ ra rằng trứng thủy tinh hóa là một phương pháp hiệu quả cho 1 chương trình chia trứng hiến với kết quả làm tổ và có thai chấp nhận được.

TS. VŨ MINH NGỌC

(Bệnh viện Từ Dũ)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét